• head1-1
  • head1-2
  • head1-3
  • head1-4
  • head1-5
  • head1-6
Tầm quan trọng của nucleotide trong thức ăn cho thủy sản

Nucleotide

Tìm hiểu những chức năng của Nucleotide và các loại Nucleotide phổ biến nên bổ sung trong thức ăn thủy sản để tối ưu hiệu quả dinh dưỡng của thức ăn, từ đó tăng hiệu quả kinh tế.

Nucleotide là gì?

Nucleotide là thành phần cấu thành nên axit nucleic- đơn vị cấu trúc của các nhiễm sắc thể (Hình 1.1). Và nucleotide cũng là đơn vị cấu trúc của Adenosine triphosphate (ATP), phân tử mang năng lượng, có chức năng vận chuyển năng lượng đến các cơ quan và đóng vai trò quan trọng trong các quá trình sinh lý và sinh hóa của cơ thể. 

Hình 1.1 Quá trình thay đổi cấu trúc thành nhiễm sắc thể trong tế bào

 

Về cấu tạo cơ bản, nucleotide được tạo thành từ sự gắn kết của nhóm phosphate và nucleoside (nucleoside được tạo thành bởi một pentose gắn với một bazơ). Nucleotide được gọi tên theo số nhóm phosphate đi kèm (mono-, di-, tri). Trong 6 loại nucleotide thì Inosine monophosphate (IMP), đang được quan tâm ứng dụng nhiều trong chăn nuôi thủy sản cũng là một sản phẩm quan trọng trong quá trình tổng hợp mới của các nucleotide.


Các loại nucleotide

Nucleotide được chia thành 2 loại gồm: purine và pyrimidine. Purine có chứa nhiều nguyên tử carbon và nito cho sự chuyển hóa sinh lý hơn là pyrimidine. Điều này chỉ ra rằng carbon và nito là cần phải được bổ sung từ nguyên liệu thô để dùng cho quá trình tổng hợp của nucleotide. Thêm vào đó, trong khi pyrimidine nhận nito để tổng hợp từ axit aspartic, thì purine còn nhận thêm nito từ glutamate và glycine. Vì vậy, nếu nucleotide không được bổ sung đầy đủ thông qua nguồn thức ăn thì không những sẽ làm giảm các chức năng sinh lý của nucleotide, mà còn tăng nhu cầu sử dụng của các axit amin cần thiết cho quá trình tổng hợp mới nucleotide, dẫn đến giảm hiệu quả sử dụng của các axit amin này cho các chức năng khác của cơ thể.

Quá trình chuyển hóa và tổng hợp sinh học của nucleotide

Purine và pyrimidine được hình thành qua hai quá trình tổng hợp khác nhau. 

Như hình 3, Purine trải qua 11 bước và cần 6 ATP để tổng hợp IMP (Inosine 5’- monophosphate) từ ribose-5-phosphate. Thêm vào đó, một ATP khác cũng được dùng để chuyển hóa IMP thành GMP, như vậy, tổng cộng có 7 ATP được sử dụng để tổng hợp GMP thông qua quá trình tổng hợp mới.

Quá trình tổng hợp của pyrimidine tương đối đơn giản hơn, chỉ gồm 4 bước và cần 4 ATP để tạo ra OMP (Orotidine Mono- Phosphate), một chất cơ bản của pyrimidine và sau đó tiếp tục các quá trình enzyme, phản ứng phosphoryl hóa để tạo thành CTP.

“IMP và UMP là hai loại nucleotide quan trọng nhất trong các loại Purine và Pyrimidine”

Hình 3: Sự tổng hợp mới (de novo pathway) của purine and pyrimidine

Như vậy, dù cả purine và pyrimidine là cần thiết cho sự chuyển hóa của tế bào, nhưng khi chọn lựa loại nucleotide để bổ sung vào thức ăn chăn nuôi, thì loại purine (IMP và GMP) nên được bổ sung nhiều hơn pyrimidine vì quá trình tổng hợp sinh học của purine tốn nhiều năng lượng (như ATP) và thời gian hơn.

Nếu nucleotide được bổ sung đủ, cơ thể không chỉ giảm được năng lượng và nhu cầu dinh dưỡng vốn cần để tạo lượng nucleotide cần thiết cho duy trì chuyển hóa và tăng trưởng, mà còn tiết kiệm các chất dinh dưỡng cần thiết tham gia quá trình chuyển hóa cho sự tổng hợp sinh học  (sự tổng hợp mới- de novo synthesis pathway). Nguồn cung nucleotide từ quá trình tận dụng (salvage pathway) chi phối quá trình tổng hợp mới thông qua hàm lượng nucleotide từ nguồn thức ăn cung cấp vào cơ thể và từ quá trình thoái hóa axit nucleic. Đặc biệt, với loại purine (IMP và GMP) thì khoảng 90% nhu cầu phụ thuộc vào con đường tận dụng.

Chức năng của nucleotide trong thức ăn thủy sản

Nucleotide là chất dinh dưỡng không thiết yếu vì nó có thể được tổng hợp trong cơ thể. Tuy nhiên, trong giai đoạn tăng trưởng nhanh, quá trình phát triển cơ quan, gia tăng cân bằng nội mô trong giai đoạn phát triển của thú non hoặc trong giai đọan stress do thay đổi thời tiết, dịch bệnh, phục hồi sau chấn thương hoặc thức ăn chăn nuôi có hàm lượng nucleotide thấp, nucleotide cần phải được bổ sung thêm trong khẩu phần để đảm bảo cung cấp đầy đủ cho các hoạt động trên.

1. Hiệu suất tăng trưởng

Chức năng thúc đẩy hiệu suất tăng trưởng của nucleotide đã được nghiên cứu ở nhiều loài cá như cá mú (Lin và cộng sự, 2009), cá hồi vân (Tahmasebi- Kohyani và cộng sự, 2011), cá hồi Đại Tây Dương ( Burrells và cộng sự, 2001), cá tráp đỏ ( Hossain và cộng sự, 2016), cá bơn (Song và cộng sự 2012) và các loài cá ăn tạp khác như cá rô phi thông qua cơ chế tế bào và phân tử. Tốc độ tăng trưởng và độ dày của thịt tăng đáng kể khi dùng thêm 0.2-0.8%IMP vào khẩu phần trong 60 ngày.

Các gen có liên quan đến tăng trưởng thúc đẩy sự tăng lên của hormone phát triển (Hepatic GHR-1. IGF-1) và những gen này ảnh hưởng đến sự tăng lên về số lượng và kích thước của tế bào (MyoD, meogenin, và Pax7) bằng tăng bổ sung hàm lượng IMP.

(P<0.05, Turkey test, Asaduzzaman và cộng sự, 2017)

 

2. Tăng cường tính dẫn dụ

Thủy sản rất nhạy cảm với nucleotide đặc biệt là khi thay thế bột cá bằng nguồn đạm thực vật trong thức ăn. Kubitza và cộng sự (1997) đã đánh giá tính dẫn dụ của khẩu phần thấp bột cá hoặc nhiều khô đậu nành trên cá vược miệng rộng (Micropterus salmoides). 

Trong các chất dẫn dụ được dùng trong thủy sản, IMP là loại có tác dụng nhất để tăng lượng thức ăn ăn vào. Thêm vào đó, chỉ sử dụng IMP đem lại hiệu quả tốt hơn là trộn IMP với các chất dẫn dụ khác.

Bên cạnh đó, tôm- loại thủy sản có sản lượng sản xuất cao thứ hai ngành thủy sản, cũng cho thấy sự tăng trưởng đáng kể trong khẩu phần có bổ sung nucleotide.

3. Cải thiện miễn dịch và khả năng chịu stress

Cải thiện hệ miễn dịch được cho là một trong những chức năng sinh lý nổi bật của nucleotide.

Tác động của nucleotide lên hệ miễn dịch như sau:

  • Cải thiện khả năng thực bào của bạch cầu không hạt như tế bào T và tế bào B trong các tế bào có liên quan đến miễn dịch
  • Gia tăng sản xuất kháng thể (IgM và IgA) và tế bào tủy xương
  • Đẩy mạnh sản xuất protein miễn dịch cytokine (IL-2, IFN-g)
  • Tăng cường sự kích hoạt và tự thải độc của tế bào NK

Sự cải thiện hệ miễn dịch được đánh giá thông qua việc tăng tỷ lệ sống của vật nuôi trong quá trình nuôi trồng và cải thiện khả năng chịu stress khi có dịch bệnh hoặc thay đổi khí hậu.

Song và cộng sự (2012) đã cho thấy tỷ lệ sống giảm đáng kể vào ngày thứ ba của thời kỳ dịch bệnh hoành hành đối với nhóm vật nuôi không bổ sung nucleotide, trong khi đó, tỷ lệ sống vẫn giữ ở mức trên 80% với nhóm có bổ sung IMP. (Hình 4.3)

Một số thí nghiệm gần đây, trên cá chép và cá hồi, hai loại cá được nuôi nhiều nhất ở vùng nước ngọt và nước biển, đã được thử nghiệm trong môi trường (thay đổi về độ mặn), và khả năng chịu đựng stress. Kết quả của thí nghiệm cũng cho thấy tỷ lệ sống và miễn dịch đã được cải thiện đáng kể ở nhóm có bổ sung IMP trong cả hai điều kiện stress. 

4. Cải thiện sức khỏe đường ruột

Nucleotide thường được thêm vào thức ăn cho trẻ sơ sinh vì khả năng tăng cường sự cân bằng của vi khuẩn đường ruột. Singhal và công sự (2008) đã báo cáo rằng bổ sung nucleotide tăng cường hệ vi sinh vật đường ruột liên quan tới miễn dịch. Xu và cộng sự (2015) cũng đã chỉ ra những thay đổi ở hệ vi sinh vật đường ruột khi bổ sung nucleotides ở cá rô phi.

Hình 4.4 Tăng trọng (A), hoạt động của enzyme tiêu hóa đường ruột (B-D), hình thái học cùa microvilli (E,F) của cá ngựa vằn cho chế độ ăn đối chứng và có bổ sung thêm 0.1% nucleotide trong 2 tuần.

5. Dùng nucleotide thay thế kháng sinh

Kháng sinh đã từng được sử dụng rộng rãi để kích thích tăng trưởng nhờ vào những tác dụng phòng ngừa hoặc ngăn chặn bệnh ở vật nuôi. Tuy nhiên, việc sử dụng kháng sinh với mục đích kích thích tăng trưởng đang giảm dần hoặc bị cấm sử dụng tại nhiều quốc gia trên thế giới do quan ngại về hiện tượng vi khuẩn kháng kháng sinh, giảm hiệu quả sử dụng kháng sinh và dư thừa kháng sinh trong sản phẩm chăn nuôi. Khuynh hướng này không chỉ diễn ra ở chăn nuôi gia súc, gia cầm mà còn được áp dụng chặt chẽ ngành thủy sản.

Vì vậy, nhiều sản phẩm thay thế cho kháng sinh đã và đang được nghiên cứu cũng như ứng dụng. Và nucleotide đã chứng minh về tác dụng trực tiếp cũng như gián tiếp đến sức khỏe đường ruột và hệ miễn dịch. Do đó, nucleotide được sử dụng như một chất kích hoạt miễn dịch và dự kiến sẽ được sử dụng như một chất thay thế kháng sinh, nhờ vào tác dụng tăng cường miễn dịch này của nó.

CJ BIO Việt Nam
Đăng ngày: 10/07/2020
Nguồn: tepbac
Lượt xem86962

Từ khóa tìm kiếm:

KỸ THUẬT KHÁC

Sử dụng nguyên liệu phụ gia trong thức ăn chăn nuôi - Phần II
Để đạt hiệu quả thì các phụ gia thay thế cũng phải mang lại tác động tương tự. Tuy nhiên, các phụ gia thay thế sẽ có cơ chế hoạt động khác và các tác động có lợi hoặc có hại cũng phải xem xét. Và từ đó có thể cần thiết phải sử dụng kết hợp các yếu tố để đạt được hiệu quả tốt nhất.
Sử dụng nguyên liệu phụ gia trong thức ăn chăn nuôi - Phần I
Acid hữu cơ đã được sử dụng trong hơn 50 năm qua nhằm làm giảm sự phát triển của vi khuẩn và nấm trong nguyên liệu và từ đó bảo quản được thức ăn chăn nuôi, trong đó Acid Formic và Propionic là được chứng minh có hiệu quả.
Kích thích tôm sú tăng trưởng bằng acid hữu cơ
Bổ sung acid hữu cơ trong thức ăn được coi là biện pháp hiệu quả để phòng bệnh, thúc đẩy tăng trưởng và giảm hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR), giúp tăng năng suất trong quá trình nuôi.
Ứng dụng của enzyme Phytase trong dinh dưỡng vật nuôi
Enzyme phytase thủy phân phytate thông qua quá trình khử phốt pho giải phóng các ion khoáng qua đó làm tăng tỷ lệ hấp thụ các khoáng chất, đặc biệt là phốt pho.
Tầm quan trọng của nucleotide trong thức ăn cho thủy sản
Trong 6 loại nucleotide thì Inosine monophosphate (IMP), đang được quan tâm ứng dụng nhiều trong chăn nuôi thủy sản cũng là một sản phẩm quan trọng trong quá trình tổng hợp mới của các nucleotide.
Xạ Khuẩn Streptomyces - Ứng dụng trong nuôi trồng thuỷ sản
Kết quả khẳng định tiềm năng lớn của các chủng Streptomyces với vai trò là men vi sinh trong nuôi trồng thủy sản, cụ thể là đối với tôm thẻ.
Bệnh do virus DIV1 trên tôm
Virus DIV1 được phát hiện lần đầu tiên vào năm 2014 trên mẫu tôm càng đỏ tại tỉnh Phúc Kiến. Tháng 2/2020, bệnh xuất hiện trở lại ở tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc) và đã gây ảnh hưởng cho khoảng 1/4 diện tích nuôi tôm ở tỉnh này.
Men vi sinh trong nuôi trồng thủy sản
Men vi sinh giúp tăng cường miễn dịch trên động vật thủy sản
Phòng bệnh vi bào tử trùng và đốm trắng mùa nắng nóng
Hiện nay,thời tiết nắng nóng, độ mặn cao, nhiệt độ cao, chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm lớn nên dễ phát sinh các mầm bệnh nguy hiểm do vi khuẩn và virus trong nuôi tôm, đặc biệt là bệnh đốm trắng đang diễn biến phức tạp trên cả tôm thẻ và sú.
Mật độ thực tế nuôi tôm thẻ siêu thâm canh
Mật độ nuôi khả thi về kỹ thuật, lợi nhuận và cộng đồng trong nuôi tôm thẻ siêu thâm canh.
Lợi và hại của tảo trong ao tôm
Tìm hiểu tác động của tảo trong ao nuôi tôm thâm canh.
CATALOGUE NAVICO
Công ty Navico chuyên cung cấp các sản phẩm chất lượng cao chuyên dùng cho chế biến thức ăn chăn nuôi, xử lý nước, hỗ trợ nuôi trồng thủy hải sản, góp phần nâng cao năng suất, tiết kiệm chi phí cho người chăn nuôi. 
PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ PHÈN AO NUÔI BẰNG VÔI VÀ PAC. NÊN CHĂNG?
Phèn là một trong những yếu tố ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất và chất lượng tôm nuôi. Trong kinh nghiệm dân gian có phương pháp xử lý phèn bằng vôi kết hợp PAC. Hiệu quả phương pháp này ra sao?
SO SÁNH PAC, PHÈN NHÔM VÀ PHÈN SẮT TRONG XỬ LÝ NƯỚC
Trong công nghệ sử lý nước, các hóa chất thường dùng để giải quyết tốt nhất là sử dụng phèn nhôm và phèn sắt, PAC. Mỗi loại hóa chất xử lý nước này đều có những đặc điểm phù hợp với ứng dụng nhất định, vậy thì phèn nhôm, phèn sắt và PAC có sự khác biệt như thế nào? Trong xử lý nước nuôi trồng thuỷ sản các hoá chất này có nên sử dụng không?
OXY GIÀ - ỨNG DỤNG TRONG NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN
Hydro peroxid hay nước oxy già có công thức hóa học H2O2, là một chất oxy hóa dạng lỏng trong suốt, nhớt hơn một chút so với nước, có các thuộc tính ôxi hóa mạnh, được dùng trong nuôi trồng thuỷ sản với công dụng cung cấp oxy hoà tan, diệt tảo, mầm bệnh, loại bỏ khí Amoni (NH3)
ỨNG DỤNG CÁC DÒNG BACILLUS SP. CÓ ÍCH TRONG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Bacillus tiết ra enzyme phân hủy các chất như carbonhydrate, chất béo và đạm thành những đơn vị nhỏ hơn. Chúng cũng có khả năng phân hủy các chất hữu cơ tích lũy trong nền đáy ao nuôi tôm. Bacillus có tác dụng làm giảm COD, H2S trong ao tôm làm tăng năng suất nuôi.
GLUTARALDEHYDE – CHẤT SÁT TRÙNG PHỔ RỘNG
Gluataraldehyde có khả năng giết chết tế bào rất nhanh, có khả năng diệt khuẩn phổ rộng. Do đó, dung dịch glutaraldehyde 0,1–2% là có thể được sử dụng trong khử trùng hoặc dùng trong việc bảo quản. Glutaraldehyde được sử dụng rất rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau như khử trùng dụng cụ y tế, công nghệ ướp xác, xử lý nước, chăn nuôi, công nghiệp giấy, thuộc da, mô bệnh học, thủy sản…
Sử dụng vôi trong nuôi trồng thuỷ sản
Vôi là một trong những chất dùng để xử lý môi trường khá rẻ tiền, có nhiều tác dụng và hiệu quả cũng rất cao, được khuyến cáo sử dụng rộng rãi để cải tạo ao, đầm nuôi tôm, cá. Hiểu và sử dụng đúng loại cũng như đúng liều lượng sẽ giúp người nuôi đạt hiệu quả cao trong chăn nuôi.
Hướng dẫn sử dụng men vi sinh trong nuôi tôm cá
Trong NTTS, để giảm thiểu những bất lợi do sử dụng hóa chất và để xử lý chất hữu cơ dư thừa trong môi trường, việc sử dụng các chế phẩm sinh học để phòng bệnh cho vật nuôi và cải thiện môi trường là ưu tiên hàng đầu.
Quản lý ao nuôi trong quá trình tôm lột xác
Trong nuôi tôm, việc tôm lột xác đồng đều là điều mà người nuôi nào cũng mong muốn. Nhưng, để làm được điều đó, chúng ta cần nắm vững các kiến thức về dinh dưỡng, môi trường, cũng như các yếu tố có thể ảnh hưởng đến chu kỳ lột xác của tôm nuôi.
Bổ sung khoáng và chất kích thích miễn dịch trong nuôi cá
Khoáng chất và vitamin rất cần thiết cho sự hình thành xương ở cá rô phi, chúng đóng vai trò là đồng yếu tố của các enzyme trong một số quá trình trao đổi chất, trong sự cân bằng axit-bazơ của máu, dẫn truyền các xung thần kinh.
Bệnh Hoại Tử Gan Tụy Cấp (EMS) trên tôm
Trong nhiều năm qua, bà con nuôi tôm đã phải “vật lộn” với Hội chứng chết sớm trên tôm (EMS) hay Bệnh hoại tử gan tụy cấp tính (AHPND) để duy trì sản xuất.
Hướng dẫn cách nhận biết nước nuôi tôm phù hợp và đúng kỹ thuật
Nước nuôi tôm cần đảm bảo đúng theo hướng dẫn về kỹ thuật nuôi tôm mới có thể giúp cho tôm sinh trưởng và phát triển tốt, không gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của tôm.
10 Bước dễ dàng để nuôi tôm cá trong hệ thống biofloc
Hệ thống ao nuôi có mái che và lót bạt đáy, phù hợp lý tưởng cho công nghệ biofloc.
Lưu ý khi nuôi sinh sản cá thần tiên
Cá thần tiên luôn được ưa chuộng, là nhóm cá không thể thiếu trên thị trường cá cảnh. Nuôi và sinh sản cá thần tiên cung cấp cho thị trường rất tiềm năng, tuy nhiên, người nuôi phải biết kỹ thuật, đặc biệt tuyển chọn giống cá mới, đẹp.
Nuôi tôm nước lợ: Nên thả giống theo thời vụ
Theo Tổng cục thủy sản, người nuôi tôm cần nghiêm túc thực hiện lịch thời vụ, thảtôm đúng với mật độ phù hợp theo từng hình thức nuôi và nhất là cần thảgiống vụ mới theo hướng thăm dò để theo dõi dịch bệnh, môi trường; nếu tình hình nuôi tôm khảquan thì tiếp tục thảgiống, tránh thảgiống vụ mới một cách ồ ạt.
Một số bệnh thường gặp trên cá nuôi nước ngọt
Theo các chuyên gia thủy sản Việt Nam, nuôi cá nước ngọt thường gặp phải một số bệnh rất khó phát hiện và xử lý, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế. Đặc biệt là vào thời điểm giao mùa, cá thường mắc một số bệnh như: đốm đỏ, bệnh đường ruột, bệnh nấm thủy mi, bệnh trùng mỏ neo…
Vitamin C rất cần thiết trong nuôi trồng thủy sản
Việc bổ sung các khoáng vi lượng hay nguyên tố vi lượng cho tôm, cá không những giúp cho loài thủy sản nuôi khỏe mạnh mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường khả năng miễn dịch của loài nuôi.

KỸ THUẬT KHÁC

GIAO HÀNG - TIN TỨC - LIÊN HỆ

Giao Hàng

Miễn phí toàn quốc

Đúng thời gian giao nhận

Tin Tức

Hữu ích - Đầy đủ

Cập nhật thường xuyên

Liên Hệ

Để trao đổi cũng như trả lời mọi thắc mắc của quý khách

Đăng Nhập

Nhận những thông tin mới nhất về sản phẩm, tin tức...

CÁC CÔNG TY LIÊN KẾT

Đăng nhập thành công.